Lý do kiến ngành bán lẽ ở Mỹ rơi vào khủng hoảng và sụp đổ

tháng 6 25, 2017 |

LÝ DO KHIẾN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ MỸ SỤP ĐỔ NĂM 2017

Từ đầu năm 2017 đến nay đã có 9 nhà bán lẻ Mỹ phá sản, nhiều hơn tổng số nhà bán lẻ phá sản trong năm 2016. Các nhà bán lẻ tên tuổi như J.C. Penney, RadioShack, Macy’s, và Sears đã công bố đóng cửa hơn 100 cửa hàng. Trong khi Sports Authority thanh lý thương hiệu thì Payless đệ đơn xin phá sản. Tuần trước, giá cổ phiếu của một số công ty may mặc Mỹ đã rơi xuống mức thấp nhất trong nhiều năm qua, bao gồm Lululemon, Urban Outfitters, American Eagle… Trong khi đó, nhà mốt Ralph Lauren tuyên bố sẽ đóng cửa hàng Polo lớn hàng đầu tại đại lộ Fifth Avenue, tiếp bước sau một số thương hiệu phải từ bỏ đại lộ mua sắm lớn nhất New York này.




Hàng trăm cửa hàng và trung tâm mua sắm tại Mỹ đang lần lượt đóng cửa. (Nguồn: Reuters)

Thường thì sự suy thoái kinh tế sâu có thể là cách giải thích hợp lý cho “sự tuyệt chủng” của các nhà bán lẻ lớn này, nhưng GDP của Mỹ vẫn không ngừng tăng lên trong vòng 8 năm qua, giá gas giảm, tỷ lệ thất nghiệp dưới 5% và 18 tháng qua là thời điểm tăng thu nhập tuyệt vời, đặc biệt là đối với người Mỹ có thu nhập trung bình và thấp.

Vậy điều gì không ổn đang xảy ra? Thực tế là lượng tiêu dùng hàng hóa bán lẻ về tổng thể vẫn tăng đều đặn, mặc dù khá ít ỏi, tuy nhiên một số xu hướng, bao gồm sự phát triển thương mại điện tử, mở quá nhiều trung tâm mua sắm – đã tạo ra sự thay đổi đối với thói quen mua sắm của người Mỹ.

Dưới đây là 3 lời giải thích về sự sụp đổ gần đây của các cửa hàng bán lẻ ở Mỹ.
Người dân mua nhiều hàng hóa trực tuyến hơn

Giải thích đơn giản nhất cho sự sụp đổ của các cửa hàng truyền thống là bị các nhà bán lẻ trực tuyến như Amazon chiếm mất thị phần. Từ năm 2010 đến cuối năm 2016, doanh thu của Amazon ở Bắc Mỹ đã tăng gấp 5 lần từ 16 tỷ USD lên 80 tỷ USD. Trong khi đó, doanh thu của Sears năm ngoái chỉ khoảng 22 tỷ USD. Có thể thấy rằng, Amazon đã tăng trưởng gấp 4 lần Sears trong 6 năm. Đáng chú ý hơn, theo một số báo cáo, một nửa trong số tất cả các hộ gia đình ở Mỹ hiện là thành viên của Amazon Prime (gói dịch vụ khách hàng thành viên cao cấp của Amazon).

Nhưng câu chuyện không đơn giản chỉ vì Amazon, nhìn nhận một cách đầy đủ thì phương thức mua sắm trực tuyến đã làm tốt trong một thời gian dài thông qua các phương tiện truyền thông và các loại hình giải trí trực tuyến. Bên cạnh đó, các chính sách hoàn trả dễ dàng đã khiến cho người tiêu dùng may mặc trực tuyến có thể mua sắm đồ rẻ, dễ dàng và không có rủi ro. Sự thành công của những doanh nghiệp mới thành lập như Casper, Bonobos và Warby Parker (giường, quần áo và kính) đã buộc các nhà bán lẻ cũ phải bổ sung các giao dịch và tiện lợi trực tuyến tương tự.

Hơn thế nữa, mua sắm trên thiết bị di động đang ngày càng dễ dàng hơn nhờ các ứng dụng và ví điện tử. Kể từ năm 2010, giao dịch thương mại thông qua điện thoại di động đã tăng từ 2% lên 20%. Sự gia tăng của thương mại điện tử không chỉ đẩy doanh số bán hàng trực tuyến mà còn tạo ra những thói quen mua sắm mới, khiến họ sẽ ngồi nhà mua sắm trực tuyến thay vì tốn nhiều thời gian hơn để đến các cửa hàng truyền thống.



Tăng trưởng giao dịch thương mại thông qua điện thoại di động từ năm 2010-2016. (Nguồn: Cowen Research)
Mỹ xây dựng quá nhiều trung tâm mua sắm

Hiện Mỹ có khoảng 1.200 trung tâm mua sắm. Trong vòng một thập niên qua, khoảng 900 trung tâm mua sắm đã mọc lên. Tình trạng hiện nay không phải là “cái chết của các trung tâm mua sắm”, tuy nhiên đây là sự suy giảm không thể tránh khỏi.

Theo Cowen Research, tỷ lệ mua sắm trên đầu người của Mỹ nhiều hơn 40% so với Canada, gấp 5 lần Anh và gấp 10 lần Đức. Báo cáo của công ty nghiên cứu bất động sản Cushman và Wakefield cho biết: “Xu hướng gia tăng của các trung tâm thương mại đã giảm 50% từ năm 2010-2013 và tiếp tục giảm mỗi năm sau đó”.
Sự chuyển đổi tiêu dùng từ chủ nghĩa duy vật sang chủ nghĩa duy tâm

Ngay cả khi thương mại điện tử gia tăng và không gian mua sắm quá tải đã buộc phải đóng cửa hàng ngàn cửa hàng bán lẻ, nhưng tại sao cuộc khủng hoảng này lại xảy ra trong khi tiền lương cho người Mỹ có thu nhập thấp đang tăng nhanh hơn bất kỳ thời điểm nào kể từ những năm 1990?

Thứ nhất, mặc dù mức lương của người lao động tăng cao và nền kinh tế nói chung vẫn phát triển, nhưng các doanh nghiệp hiện nay thu về tỷ suất lợi nhuận khá thấp từ các cửa hàng bán lẻ. Trong khi đó, nhân viên thu ngân và nhân viên bán lẻ là hai loại việc làm phổ biến nhất ở nước Mỹ. Với khoảng hơn 8 triệu người làm những công việc này, thu nhập trung bình cho cả hai ngành nghề này ít hơn 25.000 USD/năm. Nhưng gần đây, luật về mức lương tối thiểu mới và thị trường lao động thắt chặt đã đẩy lương cho những người lao động nghèo nhất, ép các nhà bán lẻ phải tăng lương cho nhân viên và lợi nhuận thu về vì thế bị ảnh hưởng.

Thứ hai, tầm quan trọng của các cửa hàng quần áo đã suy giảm vì người tiêu dùng giờ đây thay vì mua sắm quần áo, họ thích đi du lịch và ăn uống ngon hơn. Trước thời kỳ suy thoái kinh tế, người ta mua rất nhiều thứ như nhà cửa, đồ đạc, xe hơi và quần áo, khiến doanh thu bán lẻ tăng mạnh trong những năm 1990. Nhưng thời thế đã thay đổi, giới trẻ hiện nay tôn sùng nhiều yếu tố phi vật chất như du lịch, trải nghiệm hơn.

Theo Retail Magazine

Còn theo nguồn báo mới đưa tin: http://www.baomoi.com/nganh-ban-le-truyen-thong-my-roi-vao-khung-hoang/c/22296206.epi

Theo các chuyên gia, năm 2017 sẽ là năm chứng kiến sự sụp đổ của các hãng bán lẻ tại Mỹ, ở tốc độ nhanh hơn rất nhiều khi nguồn tiền mặt cạn kiệt.
Theo chuyên trang Business Insider, chỉ trong 4 tháng đầu năm nay, đã có 9 chuỗi cửa hàng bán lẻ phải xin phá sản tại Mỹ. Theo các chuyên gia, năm 2017 sẽ là năm chứng kiến sự sụp đổ của các hãng bán lẻ tại Mỹ, ở tốc độ nhanh hơn rất nhiều khi nguồn tiền mặt cạn kiệt.
Cuộc khủng hoảng hiện nay của ngành bán lẻ Mỹ được cho là manh nha từ cách đây gần 3 thập niên, thời điểm các nhà bán lẻ đua nhau mở các cửa hàng mới để đáp ứng nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng. Hệ quả là hiện Mỹ có tỷ lệ diện tích cửa hàng bán lẻ tính bình quân đầu người cao nhất thế giới.
Thường sự suy thoái kinh tế sâu có thể là cách giải thích hợp lý cho "sự tuyệt chủng" của các nhà bán lẻ lớn như Wet Seal hay J.C. Penney, Macy's phải đóng hàng trăm cửa hàng bán lẻ.
Nganh ban le truyen thong My roi vao khung hoang - Anh 1
(Ảnh minh họa)
Thế nhưng GDP của Mỹ vẫn không ngừng tăng lên, trong khi giá gas giảm, tỷ lệ thất nghiệp hiện dưới 5%, lương trung bình tăng và thậm chí, lượng tiêu dùng hàng hóa bán lẻ về tổng thể vẫn tăng đều đặn. Vậy điều gì không ổn đang xảy ra?
"Giải thích đơn giản nhất cho sự sụp đổ của các chuỗi bán lẻ truyền thống chính là bởi các nhà bán lẻ trực tuyến như Amazon đã chiếm mất thị phần. Từ năm 2010 đến cuối năm 2016, doanh thu của Amazon ở Bắc Mỹ đã tăng gấp 5 lần từ 16 tỷ USD lên 80 tỷ USD", phóng viên Pau La Monica, kênh CNN Money cho biết.
Ngoài ra, sự hỗ trợ của các công nghệ đã khiến cho lĩnh vực thương mại điện tử dần nắm quyền và lấn át ngành công nghiệp bán lẻ trị giá hàng trăm tỷ USD này.
Nguyên nhân thứ 2 dẫn đến cơn khủng hoảng ngành bán lẻ Mỹ xuất phát từ sự thay đổi trong thói quen chi tiêu của người tiêu dùng Mỹ. Cụ thể, những khoản chi tiêu cho thực phẩm, đồ uống, may mặc, đồ dùng sinh hoạt liên tục giảm, do giá thành của chúng ngày càng rẻ và đa dạng hơn. Trong khi, các mặt hàng dịch vụ, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe lại tăng nhanh do đời sống vật chất đi lên.
Hơn nữa, khủng hoảng kinh tế năm 2008 vẫn còn ám ảnh trong tâm trí nhiều người, khiến khách hàng lựa chọn tiết kiệm thay vì mua những sản phẩm giá rẻ trong những đợt giảm giá hay mùa mua sắm trong khi họ có thể mua bất kỳ lúc nào.
Hệ quả là, riêng từ đầu năm đến nay đã có tới 3.300 cửa hàng bán lẻ của các chuỗi cửa hàng truyền thống phải đóng cửa. Dự báo, con số này sẽ có thể tăng lên mức kỷ lục 8.600 cửa hàng. Làn sóng này thực sự đã có tác động không nhỏ tới việc làm.
Theo số liệu của Bộ Lao động Mỹ, trong tháng 3, các nhà bán lẻ đã cắt giảm khoảng 30.000 nhân công. Dường như cơn bão đóng cửa hay phá sản của ngành bán lẻ Mỹ vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại.
Theo VTV


Nếu lo lắng cho doanh nghiệp bạn khi doanh số bán hàng có dấu hiệu suy giảm hoặc tìm giải pháp để phát triển thương hiệu, nhanh chóng dẫn đầu ngành trong thời đại cách mạng công nghệ 4.0 . Hãy kết nối ngay với chúng tôi để thiết lập cuộc hẹn & trao đổi chuyên sâu để tìm ra Online Brand Solutions cùng với doanh nhân công nghệ: 08.684.34566

Read more…

MỘT SỐ NGỘ NHẬN VỀ ĐÀO TẠO SALES CỦA CHỦ DOANH NGHIỆP

tháng 6 20, 2017 |
Có một số doanh nghiệp mà các giảng viên dạy nghề và kỹ năng rất ngại tham gia đào tạo. Chủ yếu là do khi mới tiếp xúc lần đầu để tìm hiểu nhu cầu đào tạo, họ đã va phải quan điểm khá “lạ” của chủ doanh nghiệp. Dưới đây là một số quan điểm như vậy, tôi liệt kê ra và mong các chủ doanh nghiệp tránh nếu không thì rất khó mời và tận dụng hết kiến thức của giảng viên.
ngộ nhận khi đào tạo sale


1. Không hiểu cốt lõi vấn đề

Câu mẫu cho trường hợp này là “Năm nào cũng mời thầy về dạy mà doanh số vẫn không tăng trưởng!”. Vâng, năm nào cũng mời về, nhưng thầy cứ đi là kiến thức với kỹ năng theo thầy đi luôn, còn nhân viên hỏi lại thì “như mới” thì phải xem lại. Đơn giản là hệ thống của công ty không có cách nào dung nạp kiến thức mới để biến nó thành kỹ năng của nhân viên và giúp công ty phát triển hơn.

Những giám đốc này đã mặc định là sales sẽ tự thấy kiến thức hữu ích để học và kiếm tiền thêm. Những công ty như vậy rất khó làm việc, vì bản chất sales chỉ chủ động khi họ vừa bị ép phải học, vừa thấy rõ học thì kiếm ra bao nhiêu XYZ VNĐ.

2. Thần kỳ hoá vấn đề

"Thầy giỏi tức là thầy phải làm sao mà sửa hết lỗi của sales giúp tôi, rồi thầy đẩy họ lên thành siêu nhân đi bán hàng, phát nào cũng chốt được. Tôi kỳ vọng tăng gấp 5 lần doanh số sau lớp của thầy".

Đừng ảo tưởng, lớp học chỉ có thể làm được mấy điều sau: Một là chỉ ra định hướng phải đi cho đội sales, hai là chỉnh sửa những lỗi hiện có của đội sales chứ không thể vừa chỉnh xong là như được tưới nước Cam Lồ của Phật để ngay lập tức biến sales thành các vĩ nhân như vậy được.

3. Chủ doanh nghiệp biết tuốt

“Có gì đâu, một là tăng số khách hàng, hai là tăng doanh số trên đơn hàng, thế thôi chứ còn gì nữa. Bây giờ thế này, thầy làm như này giúp tôi, thầy soạn câu hỏi thăm dò đi, câu hỏi này không được, thầy chỉnh đi, nó phải như thế này, đúng rồi. Còn về phần ví dụ ấy, thầy làm như thế này. Tới phần tổng kết thầy làm như thế này…"

Có rất nhiều chủ doanh nghiệp rơi vào tình cảnh như vậy. Trong các trường hợp này, tôi xin phép từ chối luôn là không thể dạy cho công ty như vậy vì họ sẽ không bao giờ hài lòng vì tiêu chuẩn duy nhất họ có chỉ là cảm tính.

4. Thô thiển hoá vấn đề

Riêng trạng thái này thì lại vô cùng đa dạng chia ra làm nhiều kiểu như sau:

a. “Ôi dào, ông làm nghề sales tức là ông có mấy trò ma quỷ, đem ra mà dạy sales, dạy xong thì tôi cám ơn ông, tôi trả học phí, được chưa?”

Tôi vô cùng sợ kiểu ăn nói này của chủ doanh nghiệp, vì họ coi sales không khác gì mấy ông bốc vác ngoài bến xe bến tàu, và như thế thì họ sẽ chỉ có một đội bốc vác đi bán hàng đúng nghĩa. Nhưng tai hại là tôi còn thấy cả một loạt chủ doanh nghiệp có học thức hẳn hoi, thậm chí là giảng viên đi dạy cũng coi thường nghề sales.

b. “Trò gì của chú anh cũng biết hết rồi, cái anh cần là thủ thuật của riêng chú ấy, có gì thì liệt kê ra cho anh xem rồi dạy cho sales nhà anh!”.

Tóm lại chủ không coi trọng thầy rồi thì mong gì đội sales ở dưới coi trọng những kiến thức hay kinh nghiệm mà ông ấy chia sẻ. Thái độ của ông chủ sẽ quyết định cách làm việc của đội sales.

c. Một vị khác thì “dạy sales thì bao lâu? 1 ngày là đủ chứ mấy mà!”. Rồi “Thầy cứ phải cẩn thận. Sales bên tôi không vừa đâu, họ cũng làm lâu, biết hết các thứ như thầy rồi!”.

Tới đoạn này, thì tôi thấy hình như mình hiền quá, tỏ ra lịch sự quá, đâm ra công ty cho rằng hứa hẹn sẽ trả cho tôi Z đồng thì có nghĩa là đã sở hữu tôi cho tới khi hoàn thành xong khoá đào tạo.

Đây cũng lại là một trường hợp đáng tiếc phải từ chối, đáng tiếc bởi tôi hiểu họ sẽ còn gặp cả loạt vấn đề khác nữa vì đánh giá thấp một công cụ chính mang lại tiền cho doanh nghiệp. Bệnh chung của mấy vị giám đốc này là nghĩ sales chỉ là một thứ tạm bợ như kiểu công việc hiện giờ thì cần nhưng chả mấy mà cũng loại bỏ được. Dạy nhiều chỉ tốn tiền của công ty chứ không có hiệu quả gì.

d. Làm màu là chính: “Mình là công ty lớn nên mình phải có đào tạo. Doanh thu cả ngàn tỷ/tháng mà thỉnh thoảng không làm lớp đào tạo anh em người ta cười cho!”

Một doanh nghiệp vàng bạc đá quý mà tôi từng qua gặp trước đào tạo từng chứng tỏ mình rất mạnh về “mảng này”. Họ yêu cầu khá nhiều thứ, và diễn đạt bằng những từ ngữ rất chuyên nghiệp nhưng khi tôi hỏi thẳng vào vấn đề là sales của họ đang yếu khâu nào? Thăm dò khách hàng, phát triển số lượng khách hàng, hay tăng năng suất, doanh số, thì họ chịu vì khi truy tới cùng họ cũng chỉ biết là sales yếu thôi.

Sau một hồi trao đổi thì đột nhiên chị trưởng phòng nhân sự lại có định hướng mới, đó là “nhờ thầy thay vì đào tạo sales thì lập giúp cho một trung tâm đào tạo sales!”. Cao hứng như thế thì hiển nhiên sẽ có lúc cao hứng bỏ đi không làm nữa vì cảm thấy trung tâm đào tạo không còn là ý tưởng tốt.

5. Ham hố sự toàn diện

Sales của những doanh nghiệp này được yêu cầu trở thành con người toàn diện. Họ được học từ kỹ năng tâm lý, kỹ năng thuyết trình, tới kỹ năng truyền năng lượng tích cực,… Sơ sơ trong mô tả yêu cầu của doanh nghiệp thì trong một khoá 2 ngày 4 buổi thì tôi phải giúp cho họ trang bị đầy đủ tầm 64 kỹ năng cho người sales, hình như số này căn theo số quẻ trong Kinh dịch.

Trang bị từ đầu tới chân như vậy, chủ doanh nghiệp thầm mong đội quân của mình sẽ bách chiến bách thắng. Nhưng nhìn lại trong lịch sử thì không phải cứ đủ hết cả sắt thép từ đỉnh đầu tới gót chân như các hiệp sỹ Châu Âu thời trung cổ mà có thể chiến thắng được các kỵ binh nhẹ chỉ mang cung tên, giáo dài và gươm cong của đế quốc Mông Cổ.

6. Không có mục tiêu

Lâu lâu làm tý cho vui, đôi khi khoá học được mong đợi là để nâng cao sự vui vẻ đoàn kết trong tập thể, trong khi đó là mục tiêu thứ yếu. Nếu chỉ tập trung vào EQ thì đó sẽ là dịp để vui chơi tẹt ga tẹt số nhưng để lai một đám quân ô tạp, chỉ mong chờ các cuộc vui tiếp theo. Dạy kiểu này rất "sướng" vì thường là chỉ cần kể mấy câu chuyện cho vui vẻ, anh em người cười nói góp vui mấy câu tiếu lâm thế là hoà cả làng. Nhưng cũng sau đó thì ông giảng viên cũng sẽ bị coi như là chú hề góp vui mỗi dịp có “hội làng”.

7. Không dập được từ bên trong thì mời người ngoài vào dập giúp

Thường thì có một số doanh nghiệp có mâu thuẫn bên trong và vì cấu trúc rườm rà phức tạp, các ban bệ nhằng nhịt không ai nghe ai nên họ muốn nhờ các giảng viên vào đưa ra quan điểm giúp.

Đã có trường hợp khi tôi thực hiện bài giảng và có đưa ra quan điểm của mình theo hướng chuyên nghiệp thì một anh bên trái lớp đứng dậy ủng hộ hết lời còn một anh bên tay phải đột nhiên trở nên cáu bẳn, bực dọc, quay sang tranh luận thẳng thừng và cực kỳ gay gắt với anh kia. Có một lúc tầm 5 phút tôi không thể ngắt cuộc tranh luận như thể đấu súng ấy được. Với một bối cảnh như thế thì có lẽ trước tiên là phải giải quyết xong tình hình nội bộ đã chứ không nên mời người ngoài vào giảng bài.

Đỗ Xuân Tùng - Giám đốc Công ty Tư vấn và Đào tạo Nhân Việt
Read more…

TẠI SAO "ALIBABA SẼ LÀ NỀN KINH TẾ SỐ 5 THẾ GIỚI"

tháng 6 20, 2017 |
Hầu hết các tỷ phú công nghệ như Bill Gates (Microsoft), Steve Job (Apple), Larry Ellison (Oracle), Michael Dell (Dell), Jeff Bezos (Amazon), Larry Page (Google), Mark Zuckerberg (facebook)... đều là những người xuất phát từ công nghệ, giỏi kinh doanh, giỏi lãnh đạo.
ảnh minh họa nền kinh tế

Riêng Jack Ma lại không nằm trong số đó, Jack Ma xuất phát từ giáo viên tiếng Anh, không biết phần mềm, không biết CNTT, không biết công nghệ, không biết tài chính. Thế mà Jack Ma lại là chủ của công ty về dịch vụ điện tử dùng CNTT làm nền tảng, có giá trị công ty lên đến 352 tỷ USD.

Cách đây một tuần Jack Ma vừa có tuyên bố gây sốc: "20 năm nữa, Alibaba sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 thế giới". Để thấy hết ý nghĩa của câu nói, bạn hãy hình dung rằng: theo Jack Ma đến năm 2036, các nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ lần lượt là Mỹ, Trung Quốc, Châu Âu, Nhật Bản, Alibaba, Anh (đã ra khỏi châu Âu), Ấn Độ...

Vậy thì điều đặc biệt gì đã giúp Jack Ma vượt qua các rào cản để trở thành tỷ phú giầu nhất châu Á, đứng thứ 14 trong số những tỷ phú giầu nhất thế giới, ông chủ của một công ty đang ngày càng lớn mạnh với sức ảnh hưởng lớn trên toàn cầu, dám đặt khát vọng đưa công ty của mình trở thành một nền kinh tế lớn thứ 5 thế giới.

Theo tôi yếu tố quan trọng nhất chính là Jack Ma có triết lý sống, triết lý kinh doanh, triết lý lãnh đạo xuất sắc, vượt trội, đi trước thời đại cộng với năng lực hành động kiên định, theo đuổi mục tiêu đến cùng, không bao giờ bỏ cuộc.

Khi mà hầu hết mọi lãnh đạo chỉ nói về doanh số, lợi nhuận, tăng trưởng, văn hoá công ty, tinh thần đồng đội thì Jack Ma nói về "công ty hạnh phúc", "mỗi nhân viên thấy hạnh phúc khi làm việc ở Alibaba", "Alibaba không chỉ là một nơi làm việc, Alibaba còn là một giấc mơ, nơi khởi đầu cho những thành công mới".

Khi mà các tỷ phú khác chỉ mới nghĩ đến việc hiến một phần tài sản cho công việc từ thiện thì Jack Ma lại coi khi đã thành tỷ phú thì đấy không phải là tiền của mình nữa mà là tiền của xã hội uỷ thác cho mình để đầu tư, sinh lời, tạo công ăn việc làm cho nhiều người khác.

Sống trong một đất nước đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, xã hội có rất nhiều vấn đề bất cập. Thay vì bức xúc, Jack Ma nhìn nhận vấn đề hết sức nhân văn: "Con người ta không có ai là hoàn hảo. Xã hội được xây dựng trên những con người không hoàn hảo, nên xã hội cũng không hoàn hảo". Vì vậy Jack Ma cho rằng "việc thay đổi thế giới là việc của Obama, còn chúng ta trước hết hãy tự thay đổi chính mình". Ngược lại rất nhiều người chỉ biết kêu ca, phàn nàn, oán trách, chỉ trích, mong muốn chính quyền, lãnh đạo các cấp, mọi người xung quanh thay đổi, còn mình thì không hề thay đổi. Vì thế mà họ kém thành công.

Trước những tiêu cực của xã hội rất nhiều người thường xuyên kêu ca, phàn nàn, than vãn, oán trách, nhưng Jack Ma nhận thức rất nhanh: "kêu ca, phàn nàn, than vãn, oán trách cũng chẳng ích gì cho bản thân", "tốt nhất là mỗi người tự làm tốt nhất công việc của mình thì xã hội sẽ ngày một tốt đẹp hơn".

Về kinh doanh khi lập Alibaba, Jack Ma không chỉ nhìn thấy tương lai của thế giới là Internet, là thương mại điện tử, mà Jack Ma còn nhìn thấy như thế là chưa đủ với những nước kinh tế đang phát triển, với hệ thống vận chuyển, hệ thống thanh toán còn sơ khai. Jack Ma đã quyết định Alibaba phải giúp người mua, người bán vận chuyển hàng hoá, thanh toán tiền hàng. Chính vì vậy Jack Ma quyết định Alibaba không phải là công ty thương mại điện tử mà là công ty dịch vụ điện tử, nghĩa mô hình online kết hợp với offline (mua bán online, vận chuyển và thanh toán offline).

Thông điệp đơn giản, dễ hiểu: "mọi doanh nghiệp trên thế giới đều mua bán dễ dàng" đã định hướng cho toàn bộ hoạt động của Alibaba, từ lãnh đạo đến nhân viên; Định hướng cho tất cả các khách hàng, đối tác của Alibaba, dù là người mua hay người bán, dù doanh nghiệp vừa hay nhỏ.

Nếu ai thấu hiểu những điều trên thì sẽ dễ dàng hiểu lý giải sau của Jack Ma: "Nếu một công ty có thể phục vụ được 2 tỷ người tiêu dùng, bằng 1/3 dân số thế giới. Nếu một công ty có thể tạo ra 100 triệu việc làm, có lẽ là lớn hơn tất cả những gì các chính phủ trên thế giới có thể làm. Nếu một công ty có thể hỗ trợ cho 10 triệu doanh nghiệp, giúp họ có lợi nhuận trên nền tảng của mình, thì nó xứng đáng được gọi là một nền kinh tế”.

Phải mất 20 năm nữa chúng ta mới biết Alibaba có thực sự trở thành nền kinh tế lớn số 5 thế giới hay không, nhưng ngay từ bây giờ chúng ta đã và đang được chứng kiến sự phát triển đáng kinh ngạc của Alibaba, không phải chỉ ở Trung Quốc, mà ở cả châu Á, châu Âu và châu Phi cũng như chứng kiến một con người có sức mạnh kỳ diệu, chỉ cao có 1m52 lại đủ sức nâng bổng dăm chục nghìn nhân viên và 450 triệu khách hàng của mình.
Read more…

Vì sao chỉ có 3% khởi nghiệp thành công

tháng 5 23, 2017 |
NGƯỜI KHỞI NGHIỆP

Hôm nay tôi xin được chia sẻ về điều cực kỳ quan trọng khi quyết định khởi nghiệp. Tôi may mắn khi được tham gia một cộng đồng khởi nghiệp hơn 1000 người, trong đó có nhiều người đã khởi nghiệp thành công, có người đang khởi nghiệp và có người mới bước chân vào con đường khởi nghiệp. Tôi thuộc nhóm đang khởi nghiệp

Có một điểm chung là khi mới quyết định khởi nghiệp thì ai cũng hào hứng, khí thế bừng bừng, luôn sẵn sàng xông pha trận mạc. Nhưng sau đó khoảng 1 đến 2 năm thì khí thế trùng xuống, có người bỏ cuộc, có người chỉ buôn bán kiếm lời và chỉ còn trụ lại được một số ít là giữ được tinh thần. Sau 3 – 4 năm thì có thể nói số lượng thành công hoặc đang bước đi đúng trên con đường khởi nghiệp chỉ còn lại rất ít, chưa có số liệu chính xác nhưng nhiều người trong cộng đồng khởi nghiệp ước tính chỉ có 3% là thực sự thành công. Ở đây tôi không bàn về số liệu, mà xem như chấp nhận để nói về vấn đề khác

VÌ SAO CHỈ CÓ 3% KHỞI NGHIỆP THÀNH CÔNG?

Có phải những người khởi nghiệp thành công thông minh hơn những người thất bại? Có phải những người khởi nghiệp thành công có nhiều tiền hơn những người thất bại? Có phải những người khởi nghiệp thành công có ý tưởng tốt hơn những người thất bại? Câu trả lời chắc chắn là KHÔNG

Để khởi nghiệp thành công thì người khởi nghiệp phải là NGƯỜI KHỞI NGHIỆP. Bạn phải có những tố chất của người khởi nghiệp thì khởi nghiệp mới thành công được. Để dễ hiểu thì tôi ví dụ như sau:

VD1: một người trước giờ đi làm công, ngày làm 8 tiếng và tuần làm việc 40 giờ, bây giờ ra khởi nghiệp và cũng giữ thói quen làm việc như thế thì chắc chắn thất bại

VD2: một người đi làm công thấy cực quá, bị người ta sai bảo và bắt làm những việc không thích nên chán, nghỉ việc ra khởi nghiệp với hy vọng được tự do và sung sướng hơn. Kết quả cũng chắc chắn thất bại

NGƯỜI KHỞI NGHIỆP là người sẵn sàng làm việc 16 giờ một ngày, 7 ngày một tuần liên tục trong một thời gian dài, có thể là trong suốt 3 – 4 năm đầu khởi nghiệp. Một số người bạn của tôi rất thành công còn làm việc nhiều hơn thế.

Như vậy, 97% người khởi nghiệp thất bại vì họ không phải là Người khởi nghiệp. Tin vui là tất cả chúng ta đều có thể rèn luyện bản thân để trở thành người khởi nghiệp, chỉ khi bạn là người khởi nghiệp thì bạn mới có thể khởi nghiệp thành công

NGƯỜI KHỞI NGHIỆP LÀ NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO?
Dưới đây là những tố chất quan trọng nhất của Người khởi nghiệp:

1. Chịu khó: Khởi nghiệp là giai đoạn khó khăn nhất, vất vả nhất, có hàng nghìn việc bạn phải tự tay làm, trong khi bạn không có kinh nghiệm, không có sự giúp đỡ. Bạn mới ra khởi nghiệp thì mọi việc đều rất mới mẻ với bạn, bạn cũng chưa chứng mình được là mình sẽ thành công nên không có ai sẵn sàng đi theo bạn, cũng không có hoặc có rất ít người ủng hộ bạn. Tất cả đều dựa vào chính khả năng và con người bạn. Bạn bắt buộc phải CHỊU KHÓ

2. Tập trung: Rất nhiều trường hợp thất bại là vì không tập trung, đứng núi nọ trông núi kia cao. Đang kinh doanh sản phẩm này thấy bạn bè kinh doanh sản phẩm khác có lời hơn thì đổi sản phẩm, đổi hoài đổi mãi cuối cùng lời không thấy đâu, hoặc có lời thì cũng trở thành con buôn. Thay vì như thế, thì hãy tập trung đầu tư vào khâu chọn sản phẩm thật kỹ, sau khi chọn được sản phẩm rồi thì tập trung phát triển nó, xây dựng thương hiệu, marketing và sales. Không có sức mạnh nào lớn bằng sức mạnh của sự tập trung, chỉ khi THỰC SỰ TẬP TRUNG thì bạn mới có thể khởi nghiệp thành công

3. Kiên trì: Thành công thực sự không bao giờ đến trong thời gian ngắn, cũng không có con đường tắt để dễ dàng đi đến thành công. Tất cả cần phải có thời gian. Bạn phải kiên trì ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm thì thành công chắc chắn sẽ đến

4. Lỳ đòn: Bạn chịu khó, bạn tập trung, bạn kiên trì, nhưng khó khăn vẫn cứ đến. Bởi vì đó là đặc sản của khởi nghiệp. Khởi nghiệp luôn đầy rẫy khó khăn. Mà khó khăn đã không đến thì thôi, một khi đã đến thì đến liên tục và dồn dập. Sẽ có lúc bạn mệt mỏi rã rời, không có ai bên cạnh, cả thế giới như quay lưng chống lại bạn, bạn muốn buông xuôi tất cả (viết đến đây cảm xúc ùa về nhiều quá, vừa viết mà nước mắt rưng rưng luôn). Nhưng bạn không được sợ, cứ bình tĩnh, mọi việc rồi đâu lại vào đấy. Cứ từ từ, từ từ và từ từ giải quyết từng việc một, sau cơn mưa trời lại sáng. Những lúc như thế bạn phải thật LỲ ĐÒN, không được sợ gì hết, khởi nghiệp không làm bạn chết đâu mà sợ. Lâm nguy bất loạn, bản lĩnh khởi nghiệp là ở chỗ đó, nếu vượt qua được thì bạn mới xứng đáng chạm đến thành công

Trên đây là 4 tố chất quan trọng nhất của Người khởi nghiệp, chỉ khi nào bạn rèn luyện được 4 tố chất này thì bạn mới trở thành Người khởi nghiệp, và khi đó bạn mới có thể KHỞI NGHIỆP THÀNH CÔNG. Hãy nhìn lại bản thân xem mình đã có 4 tố chất đó chưa? Nếu chưa có thì bạn có sẵn sàng bước chân vào con đường khởi nghiệp và dùng chính con đường khởi nghiệp đầy chông gai để rèn luyện bản thân mình không?

Hãy nhìn lại chính bản thân mình, tự hỏi và từ trả lời thật lòng rồi hãy bắt đầu khởi nghiệp
Read more…

3 TỬ HUYỆT SỐNG CÒN CỦA NGƯỜI KHỞI NGHIỆP

tháng 5 22, 2017 |
Xin chào các quý anh chị và các bạn trong group QTvKN, lấy làm hân hạnh khi được đóng góp chút kiến thức và kỹ năng để phục vụ các anh chị khởi nghiệp.


Sống cùng và chứng kiến vô số cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp cứ mãi ì ạch tháng này qua năm khác không đạt được thành tựu nào đáng kể. Trước khi đổ lỗi cho bối cảnh thị trường và nguồn lực doanh nghiệp thì tôi xin nói về những thứ bề nổi và nhiều khi chính những thứ bề nổi này quyết định khá nhiều đến thành bại của cá nhân và doanh nghiệp đó, cụ thể:

1. SỐNG VÀ LÀM VIỆC THIẾU KỶ LUẬT:

Hầu hết đều đã biết khởi nghiệp là làm chủ sự nghiệp, là tự mình quản trị mọi nguồn lực từ thời gian đến tài chính một cách hiệu quả nhất. Tuy nhiên nhiều người tự cho phép mình thoải mái quá trớn, ngủ nhiều hơn cần thiết.. giải trí nhiều quá mức... thong dong và hời hợt nghĩ "đời còn dài cơ hội còn nhiều.. lo gì".

Viettel - tập đoàn viễn thông có tốc độ tăng trưởng chóng mặt, hứa hẹn sự phát triển bền vững.. thành công đó phần nào đến từ tính kỷ luật như sắt thép khi áp dụng kỷ luật quân đội vào văn hóa doanh nghiệp.

Chẳng thế mà có câu "Kỷ luật là sức mạnh".

Người nào nói khởi nghiệp mà giường chiếu chăn mùng như ổ lợn, bàn làm việc lộn xộn bụi mù... thì sớm muộn cũng thất bại ê chề. Vì bản thân bạn khi gặp gỡ đối tác mà thấy bàn làm việc lẫn bàn tiếp khách của họ bụi bặm, ruồi muỗi bay vo ve, vỏ kẹo, vỏ sữa lổm chổm trên bàn.. thì liệu bạn có còn thiện chí hợp tác cùng họ? "Cách họ làm một việc chính là cách họ làm mọi việc".

2. QUẢN TRỊ NHÂN LỰC KÉM HIỆU QUẢ

Công ty nào 8h đến giờ làm việc mà muộn 10 20 phút sau mới thấy lác đác vài nhân viên, nhân viên làm việc thì vừa làm vừa ăn vặt vừa lướt facebook chém gió với bạn bè.. thì xin lỗi số phận doanh nghiệp đó cũng ở tình trạng cảnh báo mất rồi, thể hiện rõ sự lãng phí và yếu kém trong công tác quản trị của người đứng đầu.

Cứ thử vào các phòng giao dịch của các ngân hàng mà xem, nhân viên của họ gần như làm việc liên tục, vừa xử lý 1 đống số liệu vừa nghe điện thoại tư vấn cho khách hàng.. vừa tiếp khách hàng mới.. họ gần như chẳng rảnh ra chút nào, có muốn ngủ gật cũng chẳng có thời gian mà ngủ, cũng không buồn ngủ nổi bởi công việc cả đống.. đầu óc lúc nào cũng phải tập trung tối đa.

Tôi có thời gian 3 năm quản trị một phân xưởng sản xuất vỏ điện thoại, lúc công việc nhiều thì vất vả một chút nhưng rất ít vấn đề phát sinh vì ai cũng luôn trong trạng thái tập trung làm việc. Lúc kế hoạch sản xuất giảm, việc ít.. thì y như rằng sẽ có vấn đề phát sinh, nào là chốn đi ngủ, vừa làm vừa lim dim ngủ gật dẫn đến thao tác sai gây lỗi hàng, hỏng thiết bị. Đúng như câu "Nhàn rỗi sinh nông nổi".

Khi bố trí công việc bắt buộc phải lên rõ bảng mô tả công việc và bảng mô tả kết quả cho từng vị trí. Một ngày cần làm những hạng mục nào.. kết quả phải đạt được như nào phải rạch ròi cho nhân viên luôn định hình rõ mục tiêu làm việc trong ngày, tháng, quý, năm...

Những vị trí như lễ tân, bảo vệ...phải áp dụng tiêu chuẩn về thái độ khi phục vụ, gặp khách.. đón khách phải cười chào..vv...

Các công việc nghiên cứu và phát triển phải tuyển chọn những người thực sự đam mê nghiên cứu, quan sát kỹ thái độ để nhận diện.. vì công việc này khó để áp đặt kết quả rõ ràng, giống như việc yêu cầu một kỹ sư 1 tuần phải nghiên cứu ra 1 mẫu điện thoại mới vậy.. sẽ không khả thi, nếu có ra kết quả thì cũng sẽ không có gì đột phá vì họ đã bị áp đặt, giới hạn trí tưởng tượng của não bộ.

3. TỰ HÀI LÒNG VỚI SẢN PHẨM

Cách đây vài năm khi Iphone 4 còn đang là sản phẩm đỉnh cao của Apple, thử hỏi nếu Apple thỏa mãn và không nâng cấp liên tục thì iphone 4 giờ mang so với Galaxy S7 edge của Samsung thì quả thật là một trời một vực, rất may Apple luôn ráo riết nâng cấp và hoàn thiện sản phẩm để cho ra đời iphone 5 6 7... Chứ không thì thị phần của iphone đến nay chắc đã tiêu tan dưới tay các ông lớn cũng đang không ngừng hoàn thiện như Samsung hay Sony rồi.

Nói hơi thô chứ đến 1 chiếc quạt điện cũng thế, cách đây vài năm chiếc quạt đơn thuần chỉ giúp biến điện năng thành cơ năng tạo ra gió.. Nhưng dần dần được nâng cấp lên quạt hơi nước, quạt điều khiển từ xa.. vv...

Không ngừng nâng cao chất lượng trải nghiệm người dùng là yếu tố then chốt cho sự phát triển bền vững, doanh nghiệp phải luôn "Hướng tới đỉnh cao của sự hoàn thiện"

Thương trường giống hệt một dòng sông và người doanh nhân là người bơi ngược dòng nước, nếu tự mãn và không chịu chèo lái thì dòng nước sẽ đẩy con thuyền lùi lại, lùi xa đích đến .. lùi dần lùi dần tới khi nghe tiếng thác đổ ào ào mới nhận ra sắp bị thác nước vùi dập.. khi đó mọi nỗ lực đều trở thành vô nghĩa.

Trên đây là 3 tử huyệt mà cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp phải bài trừ nếu muốn nghĩ tới những thứ lớn lao hơn. Tin vui là cả 3 tử huyệt trên đều có thể khắc phục ngay lập tức nếu chủ doanh nghiệp quyết cứng rắn vù sự phát triển bền vững của tổ chức.

Khi làm tốt cả 3 yếu tố này nền móng quản trị mới thực sự kiên cố để xây nên những tòa cao ốc chọc trời.

Chúc các bạn có một ngày gặt hái nhiều thành tựu.

Nguyễn Đình Trưởng
Read more…

Đơn giản hóa tư duy kinh doanh - Nền tảng khởi nghiệp tinh gọn

tháng 5 17, 2017 |
NỀN TẢNG ĐỂ KHỞI NGHIỆP TINH GỌN

Xin chào quý anh chị, các bạn đây là bài viết mà tác giả muốn chia sẻ đôi lời về Khởi Nghiệp Kinh Doanh cho vô số bạn đang tìm đường khởi nghiệp. Nội dung về vấn đề: Đơn giản hóa tư duy kinh doanh - Nền tảng khởi nghiệp tinh gọn được tác giả chia sẽ như sau:
Nhìn xem.... để có thể khởi nghiệp kinh doanh chúng ta có hàng tá thứ cần phải trang bị.. nào là mô hình kinh doanh, đội ngũ kinh doanh, kế hoạch, chiến lược kinh doanh vv... quá nhiều thứ hiện ra làm chúng ta cảm thấy rối bời, chùn bước, mông lung...
Nền tảng khởi nghiệp tinh gọn

Khi mông lung rất khó để bạn có thể bắt tay vào làm hoặc sẽ làm một cách lung tung theo bản năng. Nên điều bạn cần làm đầu tiên để có thể bắt đầu kinh doanh một cách tinh gọn là hãy ĐƠN GIẢN HOÁ TƯ DUY KINH DOANH.

Đơn giản hoá tư duy kinh doanh là xác định bản chất của kinh doanh gồm: sản phẩm và bán hàng. Nghĩa là bạn hãy không ngừng hoàn thiện để sản phẩm thực sự tốt, thực sự ưu việt, bước tiếp theo là tìm cách bán chúng đi cho thật nhiều người. Nào hãy cùng nhìn nhận một cách đơn giản, xúc tích:

A. SẢN PHẨM

Để chọn được một sản phẩm để kinh doanh không quá khó. Nhưng để chọn được sản phẩm phù hợp để kinh doanh thành công thì không dễ. Chẳng thế mà cùng một mặt hàng đó người thì bán được rất nhiều, người thì bán được cực kỳ ít.

Nhiều người gầy đét mà lại đi bán thuốc tăng cân, mặt đầy mụn nhọt nhưng lại bán kem dưỡng da, vv... thử hỏi bạn có sẵn sàng mua thuốc tăng cân từ một người gầy đét? bạn có sẵn sàng mua kem dưỡng da của một người mặt đầy mụn nhọt?

Thế nên, để lựa chọn hoặc tìm ra một sản phẩm tiềm năng phù hợp bạn cần xác định "nguồn lực" của bản thân mình, có 3 loại nguồn lực cần ghi nhớ:

1. Nguồn lực "trí thông minh bản năng":

- Trí thông minh về ngôn ngữ: nhà văn, nhà thơ...
- Trí thông minh về logic, toán học: nhà khoa học, kế toán...
- Trí thông minh về âm nhạc: ca sỹ, nhạc sỹ....
- Trí thông minh về thể thao: vận động viên, huấn luyện viên...
- Trí thông minh về không gian: kiến trúc sư, nhà thiết kế...
- Trí thông minh về tương tác: các vị tổng thống tranh cử, nhà tâm lý học...
- Trí thông minh về triết học: những người viết nên lý thuyết làm thay đổi cuộc sống của hàng triệu người (Mac-Anghen, Lenin, Bác Hồ, vv..... )

Bạn hoàn toàn có thể tận dụng trí thông minh bản năng của mình để kinh doanh, bạn có thể mở studio thu âm ca khúc (trí thông minh âm nhạc), mở phòng tập thể hình, lớp dạy võ thuật (trí thông minh thể thao), vv........

2. Nguồn lực sơ cấp:

Là những ĐIỂM MẠNH bạn kế thừa hoặc tích luỹ trong suốt quá trình sống và làm việc như:

- Mối quan hệ: Bạn có thể tận dụng các mối quan hệ để hỗ trợ công việc kinh doanh một cách thuận lợi, tuy nhiên hãy tận dụng nó một cách có lương tâm. Chắc hẳn bạn từng chứng kiến nhiều người lợi dụng mối quan hệ để làm ăn phi pháp hoặc làm ăn trên sương máu của người khác, nếu làm thế.. lúc đầu có thể kiếm được khá nhiều tiền nhưng ngày bạn phải đối mặt với hậu quả sẽ phải đến.

- Tiền: Tôi vẫn bắt gặp nhiều người được thừa kế cả đống tài sản nhưng chỉ biết ăn chơi vô bổ, kết cục thế nào bạn đoán được rồi đấy. Và tôi cũng bắt gặp nhiều người có nguồn lực kinh tế khủng khiếp nhưng họ luôn biết dùng chúng để đầu tư và làm nhiều việc có ích, họ tạo ra những sản phẩm thương hiệu Việt Nam rồi mang sản phẩm đó đi ra khắp thế giới..vv...

Khi bạn may mắn sở hữu những mối quan hệ giá trị, thừa kế những đống tài sản kếch xù... thì hãy tận dụng chúng để làm những việc giá trị, việc giá trị nhất bạn nên làm là xây dựng nên những doanh nghiệp.

3. Nguồn lực THÀNH CÔNG.

Đây là nguồn lực quan trọng nhất, chi phối tới 70% thành công của bạn, tin cực vui là nó có thể trang bị, trau dồi được.

Đối với một người kinh doanh thì LÝ DO làm kinh doanh chính là một trong những yếu tố then chốt quyết định thành bại.

Lý do của bạn có thể là để làm chủ thời gian của mình. Không phải chịu sự quản lý và chi phối về thời gian của người khác, mỗi sáng không phải uể oải gượng dậy tới cơ quan,....

Lý do ấy cũng có thể là để làm chủ thu nhập của chính mình thay vì cuối tháng nhận đồng lượng đủ sống.

Hoặc lý do của bạn là tạo ra những hệ thống kinh doanh, những "di sản giá trị nhất" cho xã hội, bạn ghé thăm bài viết ở link trích dẫn trên để tham khảo lý do của tôi nhé.

Khi đã hiểu vì sao làm kinh doanh, vì sao làm sản phẩm này.. thì bạn phải có NIỀM TIN rằng bản thân mình làm được, sản phẩm của mình làm được. NIỀM TIN là yếu tố bắt buộc để bạn làm bất cứ điều gì.

Nếu không tin chiếc chìa khoá có thể mở khoá căn phòng thì bạn sẽ chẳng bao giờ cắm chìa vào ổ khoá.

Nếu không tin mình có thể lái xe thì bạn sẽ chẳng một lần dám ngồi lên xe và nổ máy.

Nếu không tin sản phẩm của bạn giải quyết được vấn đề của khách hàng bạn sẽ chẳng dám mở mồm chào mời một cách thật lòng.

LÝ DO và NIỀM TIN đủ lớn, kết hợp với ĐAM MÊ thì chắc hẳn kết quả nhận được không hề nhỏ. ĐAM MÊ mang lại cho bạn động lực để hành động không mệt mỏi. Và hành động chính là cầu nối đưa bạn đến gần hơn với kết quả, thành tựu.

Bạn đã xác định để tận dụng được nguồn lực của bản thân rồi, tiếp theo hãy nhìn nhận và tận dụng tiếp:

- ĐỘ TRỄ: sản phẩm nơi này có mà nơi kia chưa có, nơi định kinh doanh phải có nhu cầu về sản phẩm này.

- THAM SỐ MỚI: Là những công cụ bây giờ có nhưng ngày xưa chưa có (facebook, smartphone....) để tạo ra sản phẩm mới hoặc dùng chúng để bán những sản phẩm khác. Ví dụ như Uber, Grab tận dụng GPS , Smartphone, 3G để kinh doanh dịch vụ gọi xe taxi qua smartphone. Nếu ý tưởng này mà thực hiện cách đây 20 năm thì sẽ không thể khả thi rồi =))

Tiếp theo để có một sản phẩm thông minh bạn phải xác định cho mình đối tượng khách hàng mong muốn phục vụ, xác định vấn đề họ gặp phải, rồi tìm ra những công cụ để giải quyết các vấn đề ấy và thương mại hoá nó. Tham khảo bài viết chi tiết (bit.ly/2oLZs18)

Khi sản phẩm của bạn đã hoàn thiện, đó là thời điểm để mang nó đi phục vụ cho thật nhiều người.. trong suốt quá trình bán hàng bạn không ngừng cải tiến và nâng cao sản phẩm, với mục tiêu sp của bạn sẽ là sản phẩm tốt nhất trong phân khúc, lĩnh vực đó.

B. BÁN HÀNG

Lúc này bạn đã có trong tay 1 sản phẩm thông minh, có giá trị rõ ràng đối với cộng đồng. Giá trị rõ ràng nghĩa là sao?

1. Giá trị chung: Là giá trị chung của ngành, sản phẩm cùng ngành của bạn giúp khách hàng giải quyết được điều gì? Vì sao khách hàng không tự làm mà lại mua của bạn? Sản phẩm của bạn giúp khách hàng tiết kiệm thời gian, tiền bạc?

Giá trị chung của tất cả các quán chè là giúp khách hàng được ăn món chè thơm ngon mà không phải nhọc công mày mò, tốn thời gian chế biến, tốn nhiều tiền mua nguyên liệu hơn.

Giá trị chung của các cửa hàng thời trang là giúp khách hàng sở hữu những bộ cánh đẹp mà không phải nhọc công chọn loại vải phù hợp, tốn thời gian tự học may, tốn nhiều chi phí hơn.

Giá trị chung là bạn phải trả lời câu hỏi: Vì sao khách hàng mua hàng của bạn mà không tự làm?

2. Giá trị riêng:

- Lợi thế khoảng cách: Khi bạn có nhu cầu về mặt hàng nào đó mà ở khu bạn sống chỉ có duy nhất 1 cơ sở cung cấp thì đương nhiên bạn không có sự lựa chọn nào khác.

Khi bạn thèm ăn chè mà cả thị trấn chỉ có duy nhất một quán chè thì bạn sẽ đến đó.

Khi bạn cần sắm một bộ quần áo mà cả vùng chỉ có mỗi 1 cửa hàng thì bạn bắt buộc phải đến đó để lựa chọn.

Lợi thế về khoảng cách của hầu hết các ngành ngày càng thu nhỏ do sự phát triển bùng nổ toàn cầu của ngành ship, ở HN bạn hoàn toàn có thể đặt mua một bộ vest trong TP HCM và ngược lại..vv... từ đó việc tận dụng lợi thế khoảng cách và độ trễ không còn là sự lựa chọn thông minh.

Chỉ còn một vài ngành có thể tận dụng mạnh lợi thế này là ngành tạp hóa và vật liệu xây dựng. Vì bạn không ai đặt ship chai mắm từ Sài Gòn ra Hà Nội, không ai đặt ship 1 cân than từ tận gốc Quảng Ninh về Bắc Ninh.

Khi lợi thế khoảng cách là như nhau, 2 quán chè cạnh nhau, 2 cửa hàng thời trang cạnh nhau thì khách hàng tiếp tục căn cứ vào chất lượng cốt lõi để lựa chọn sản phẩm.

- Chất lượng cốt lõi: Là tính ưu việt về chất lượng sản phẩm. Thể hiện mức độ hoàn thiện của sản phẩm.

Khi lựa chọn 2 đơn vị kinh doanh gần nhau, khách hàng luôn là những vị giám khảo công bằng nhất đánh giá chất lượng cốt lõi của 2 quán chè bằng mức độ ngon miệng của họ để chọn ăn ở quán ngon miệng hơn. Họ liên tục so sánh và đánh giá chất lượng quần áo giữa 2 cửa hàng thời trang với nhau để chọn mua đồ ở cửa hàng vượt trội hơn.

Mọi dòng sản phẩm dù thành công bậc nhất vẫn phải liên tục cải tiến, không ngừng hướng tới đỉnh cao với mong muốn mang lại trải nghiệm hoàn hảo khi sử dụng.

Cách đây 5 năm Samsung Galaxy S3 là một trong những chiếc điện thoại đỉnh cao, nhưng giả sử Samsung không tiếp tục nâng cấp lên S4... S8 thì liệu sản phẩm galaxy S3 có cạnh tranh nổi với Iphone 7 ngày nay? Và thật tuyệt vời khi Samsung không ngừng nâng cấp lên S8, Note 7 và luôn là dòng điện thoại dẫn đầu xu hướng với chất lượng đỉnh cao.

Chất lượng cốt lõi chính là chìa khóa vàng để mở cánh cửa trái tim khách hàng.

Còn khi mà giá trị chung được thỏa mãn, lợi thế khoảng cách, chất lượng cốt lõi là ngang nhau thì khách hàng căn cứ vào yếu tố nào để lựa chọn?

Chính là yếu tố phục vụ, khi các khía cạnh đều ngang nhau thì khách hàng sẽ nhìn nhận và lựa chọn trên tiêu chí "con người phục vụ".

Hai quán chè gần nhau, chất lượng chè như nhau, một quán phục phụ ân cần bàn ghế lau sạch tinh tươm, quán kia làm cũng ngon như thế nhưng bàn ghế nhầy nhuột ruồi nhặng bay vo ve, thái độ phục vụ lồi lõm. Thì bạn sẽ chọn quán nào?

Hai cửa hàng thời trang gần nhau bán cùng 1 mẫu áo bạn rất muốn mua, 1 cửa hàng thì bày biện lộn xộn, móc treo lôm côm, thái độ phục vụ hời hợt bất cần. Quán kia bày biện tủ áo, móc treo thẳng tắp, ngăn nắp, nền nhà bóng nhoáng.. người bán niềm nở ân cần. Thử hỏi bạn chọn quán nào?

Đôi khi vì quán 1 chè ngon hơn hẳn, cửa hàng quần áo có mẫu mã và chất lượng đẹp hơn hẳn thì khách hàng cũng chấp nhận chịu đựng thái độ phục vụ không tốt để sở hữu sản phẩm. Nhưng thời buổi này sự cạnh tranh cao, ít mặt hàng độc quyền nên nếu yếu tố con người không được quan tâm thì bạn đã vô tình đánh mất đi nhiều lợi thế.

Trên đây là một lộ trình để bạn có thể đặt những bước chân đầu tiên trên con đường làm chủ sự nghiệp kinh doanh của mình.

Tuyệt vời khi bạn là một trong số không nhiều người đọc đến dòng chữ này. Và nếu chăm chú đọc từ đầu đến giờ bạn vô tình đã nhìn ra một con đường khởi nghiệp kinh doanh sáng lạn rồi. Hy vọng 1 2 3 năm sau bạn sẽ inbox kể với tôi về thành quả kinh doanh của mình.

---st---
Nguyễn Đình Trưởng™
Read more…

Lưu ý về tỷ lệ thôi việc

tháng 5 16, 2017 |
CEO nên lưu ý về chỉ số tỷ lệ thôi việc

Làm người đứng đầu một tổ chức, việc nắm bắt các con số là chuyện dễ hiểu. Các con số sẽ nói lên nhiều điều. Sale thì rõ rồi. Mọi con số đều có thể rõ ràng. Sản xuất cũng vậy. Còn nhân sự thì sao? Các vấn đề liên quan đến con người, liệu có thể là những con số minh bạch?
Lưu ý về tỷ lệ thôi việc

Dĩ nhiên là có. Trong Quản trị Nhân sự, chúng ta có nhiều con số cần phải quan tâm. Vì như tôi nói ở trên, số sẽ chỉ ra nhiều điều. Vậy là CEO sẽ cần quan tâm tới con số nào trong QTNS. Trong khuôn khổ stt này, tôi xin được giới thiệu với anh chị em về TỶ LỆ THÔI VIỆC (turnover). Xin phép được gọi anh chị em là bạn trong bài viết.

Hãy cứ coi như doanh nghiệp là 1 cá thể sống có hệ bài tiết. Hệ bài tiết có tốt thì cá thể mới khỏe mạnh. Tỷ lệ turnover cho ta thấy được sức khỏe hệ bài tiết của DN. Cũng giống như việc đi tiểu tiện, nếu ngày 1 - 3 lần thì không sao nhưng nếu nhiều quá hoặc không đi lần nào thì chứng tỏ thận của chúng ta đang có vấn đề. Và suy rộng hơn cơ thể của chúng ta đang cần phải đi khám ngay lập tức. Từ cách ví von này, turnover rất chính là 1 chỉ số của bác sỹ đánh giả khả năng "lọc" người của doanh nghiệp.

Tỷ lệ thôi việc, đơn giản thì được hiểu là tốc độ thay đổi nhân viên của đơn vị hay công ty. Tốc độ này được đo hàng tháng và đo hàng năm. Công thức tính của nó đơn giản:

Turnover = Tổng Số thôi việc ( chỉ tính nhân viên chính thức )/Nhân sự TB tháng( chỉ tính nhân viên chính thức )

Giả sử turnover của công ty bạn là 25% thì điều này có nghĩa là gì ? Điều này có nghĩa là năm vừa rồi công ty của bạn có 1/4 số người ra đi và thay vào đó là 1/4 số người mới. Một cách tính đơn giản để chúng ta dễ hiểu như sau: Giả sử tỷ lệ thôi việc là 25% và không đổi. Năm 1 cty có 100 người. Năm 2, do tỷ lệ là 25% nên cty sẽ có 25 người mới và 75 người cũ. Năm 3, cty sẽ có 25 người mới, 25 người 1 năm và 50 người cũ . Năm 4 cty sẽ có 25 người mới, 25 người 1 năm, 25 người 2 năm và 25 người cũ. Năm 5 cty : 25 người mới, 25 người 1 năm, 25 người 2 năm, 25 người 3 năm. --> Sau 5 năm gần như công ty thay xác hoàn toàn, không mấy ai có nhiều kinh nghiệm và gắn bó với công ty quá 3 năm. Thật đáng sợ với kết luận này. Tôi chắc anh chị em cũng còn có thể suy ra nhiều điều nữa. Vậy suy nghĩ của cả nhà là gì khi đọc được kết luận này ?

Trên đây chỉ là 1 phần nhỏ chúng ta sẽ đọc được từ con số turnover đó. Tiếp theo chúng ta còn có để luận nó như:

- Tỷ lệ nghỉ việc bằng 0 nghĩa là gì?
Tỷ lệ nhân viên nghỉ việc của doanh nghiệp thấp hoặc thậm chí bằng 0 không nói lên được rằng doanh nghiệp đang hoạt động tốt. Giống như cơ thể, bạn không bài tiết thì điều đó có nghĩa là cơ thể bạn đang bị bệnh. Trên thực tế, có rất nhiều yếu tố là nguyên nhân của hiện tượng này, chẳng hạn như thiếu cơ hội việc làm trong khu vực, những ràng buộc về tài chính khiến nhân viên không dám nghỉ việc, hình ảnh của doanh nghiệp không được tốt khiến các nhà tuyển dụng tránh xa doanh nghiệp, hoặc cũng có thể là doanh nghiệp có quá nhiều nhân viên già, không muốn thay đổi công việc nữa. Một lý do nữa là, có thể nhân viên của doanh nghiệp này không được đánh giá cao. Những nhà tuyển dụng thực thụ luôn luôn tìm cách đánh cắp nhân tài từ các công ty khác, kể cả trong giai đoạn khó khăn. Nếu chẳng có ai đánh cắp (hoặc ít nhất là tìm cách đánh cắp) nhân viên của bạn thì có nghĩa là đám nhân viên này chẳng có giá trị gì mấy.

- Tỷ lệ nghỉ việc < 4%: thì có thể sẽ kìm hãm sự vận động nội bộ, làm nhân viên thất vọng (có thể sẽ dẫn đến nghỉ việc sau này) và hạn chế sự phát triển tài năng của cá nhân. Điều đó có nghĩa là bạn đánh mất rất nhiều lợi ích mà đội ngũ nhân viên mới có thể mang lại cho tổ chức (ý tưởng mới, kỹ năng mới, trí tuệ cạnh tranh). Lực lượng thuê mới cũng có thể được coi là chất xúc tác cạnh tranh vì nhân viên hiện tại sẽ cảm thấy bi đe dọa khi phải cạnh tranh với tài năng mới. Ngoài ra chúng ta còn có thể đọc vị tỷ lệ này như sau:
1. Cán bộ quản lý không xác định được và sa thải các nhân viên yếu kém 1 cách kịp thời.
2. Nhân viên của doanh nghiệp bạn thực sự không được đánh giá cao nên các nhà tuyển dụng không để ý đến.
3. Doanh nghiệp có tỷ lệ luân chuyển nội bộ cao, nguyên nhân có thể là nhân viên vẫn yêu doanh nghiệp nhưng luân chuyển trong nội bộ rất nhiều do cán bộ quản lý tồi hoặc chương trình phát triển kém.
4. Doanh nghiệp không tuyển mới hoặc tuyển rất ít. Điều này làm cho bộ phận tuyển dụng của doanh nghiệp bị cùn đi vì ít hoạt động. Không tuyển mới trong 1 thời gian dài cũng sẽ làm ảnh hưởng đến tiếng tăm “nơi làm việc tốt nhất” và hình ảnh của doanh nghiệp vì mọi người sẽ quên mất doanh nghiệp bạn.

- Phải chăng tỷ lệ 4% - 10% là tỷ lệ chấp nhận được và doanh nghiệp nên duy trì? Nếu thế thì công ty 100 nhân viên mà ta đã đề cập ở trên mỗi năm phải tìm cách thay thế 4 - 10 nhân viên ? Tôi thử đặt lại bài toán giống trên: Năm 1 : 100; năm 2: 10mới 90cũ; năm 3: 10 mới 10 1năm 80cũ; năm 4: 10mới 10 1 năm 10 2năm 70 cũ; năm 5: 10 mới 10 1 năm 10 2 năm 10 3 năm 60 cũ; năm 6: 10 mới 10 1 năm 10 2 năm 10 3 năm 10 4 năm 60 cũ .... Bạn có hiểu Tôi đang tính gì không ? Tóm lại với tỷ lệ thôi việc cố định 10% thì sau 10 năm, cty sẽ có 10 nhân viên làm việc ở công ty 10 năm, 10 nv làm việc 9 năm, 10 nv 8 năm; 10 nv 7 năm ... Con số này tuyệt vời. Công ty luôn có người mới và có người gắn bó, có kinh nghiệm. Vậy là ở đây ta có thêm kết luận: nhân sự phải duy trì tỷ lệ thôi việc từ 4 - 10% ( chỉ số KPI ) nếu < hoặc > thì sẽ mất thưởng.

- Vậy đọc vị của tỷ lệ > 10% là ?
1. Doanh nghiệp không xác định được chính xác nguyên nhân thực sự tại sao mà các cá nhân quan trọng nghỉ việc (thường bằng cách tiến hành phỏng vấn thôi việc) nên không ngăn chặn được các trường hợp nghỉ việc khác về sau.
2. Tốc độ thay thế các vị trí trống quá thấp, ảnh hưởng xấu tới việc kinh doanh.
3.Nhân viên giỏi ra đi mà không báo trước hoặc báo trước rất ít thời gian.
4. Người nghỉ việc là trưởng nhóm hoặc cán bộ quản lý 1 bộ phận quan trọng.
5. Người nghỉ việc là người lãnh đạo về mặt đường lối hoặc luôn có sáng kiến cải tiến.
6. Người nghỉ việc là Nhân viên có kỹ năng/kiến thức đặc biệt quan trọng
7. Người nghỉ việc là Nhân viên duy nhất có kiến thức/kinh nghiệm trong 1 lĩnh vực quan trọng của doanh nghiệp.
8. Người nghỉ việc là Nhân viên nắm được rất nhiều mối liên hệ và kinh nghiệm.
9. Người nghỉ việc là Nhân viên đang làm công việc đặc biệt quan trọng.
10.Người nghỉ việc là Nhân viên làm công việc tạo ra doanh thu hoặc có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu.
11. Người nghỉ việc là Nhân viên thuộc đơn vị kinh doanh quan trọng
12.Người nghỉ việc là Nhân viên linh hoạt hoặc có kinh nghiệm quốc tế.
13.Người nghỉ việc là Nhân viên làm việc rất tốt hoặc ở vị trí chủ chốt nghỉ việc và sang làm cho đối thủ cạnh tranh trực tiếp.
14.Người nghỉ việc là Nhân viên là mắt xích trong một kế hoạch liên tiếp.
15.Người nghỉ việc là Nhân viên có tiềm năng lớn ra đi vì không có cơ hội phát triển.
16.Người nghỉ việc là Nhân viên tốt nhưng bị cho nghỉ việc trong quá trình cắt giảm hoặc sát nhập do chưa đủ thâm niên hoặc do quá trình cắt giảm yếu kém, không căn cứ vào hiệu quả công việc.
17.Không có sẵn ứng viên nội bộ hoặc bên ngoài có thể thay thế được.
18.Nhân viên nghỉ việc và sau đó đưa ra nhận xét ko hay về doanh nghiệp trên một kênh thông tin đáng tin cậy hoặc khiếu nại doanh nghiệp
19.Người nghỉ việc là người nổi tiếng hoặc là biểu tượng trong ngành.
20.Sự ra đi không tính toán trước của một trong số các giám đốc điều hành được nhiều người biết đến.
21.Doanh nghiệp và các cán bộ phụ trách tuyển dụng có thể bị ảnh hưởng khi họ quyết định sa thải một nhân viên tồi song lại không thể tuyển người thay thế bởi chính sách thắt chặt tuyển dụng của doanh nghiệp
22. Một đợt cắt giảm nhân sự lớn hoặc một xì căng đan đình đám nhiều người biết, khiến cho các nhân viên ở lại bắt đầu nghĩ đến việc ra đi, điều này ảnh hưởng tới thương hiệu của doanh nghiệp trong vai trò sử dụng và tuyển dụng lao động.

Ý kiến của bạn là gì về tỷ lệ này vậy ?

---st---

Nguyễn Hùng Cường 
Read more…

Đừng gọi thưởng năm là lương tháng 13

tháng 5 16, 2017 |
Đừng gọi thưởng cuối kỳ kinh doanh là lương tháng 13

Nhân việc chị Phương có up một bài nói về lương tháng 13. Cường cũng xin phép mở thêm 1 stt nữa để bàn về việc này theo góc nhìn của Nhân sự.

Chúng ta hay gọi lương tháng 13 là thưởng cuối năm. Cứ cuối năm hoặc Tết, ai đó được thưởng một tháng lương, người ta gọi ngay đấy là lương tháng 13. Có lẽ chúng ta nên rạch ròi cách gọi. Lương tháng 13 khác với Thưởng cuối năm.

- Lương tháng 13 nên được hiểu là khoản tiết kiệm từ lương của các tháng để cuối năm trả.
- Thưởng cuối năm (thưởng Tết) là khoản tiền có được do công ty có lợi nhuận và chia lại cho nhân viên.

Một số công ty hiểu đúng nên có 2 khoản này. Và một số thì không hiểu điều đó. Tôi hay đi tư vấn và thường khuyên các công ty nên tách phần lương cứng làm 2 với tỷ lệ khác nhau. Một phần trả luôn hàng tháng cho người lao động và một phần giữ lại. Cuối năm lấy tổng phần đó trả cho nhân viên để làm lương tháng 13. Còn thưởng thì dựa trên lợi nhuận của công ty. Lợi nhuận nhiều chia nhiều. Lợi nhuận ít chia ít.

Luật không yêu cầu công ty phải có lương tháng 13 hay thưởng. Việc có hay không dựa trên thỏa thuận của người sử dụng lao động và người lao động. Vì thế mọi người nên hỏi và thỏa thuận ngay từ khi ký hợp đồng lao động. Chứ đừng vào làm rồi mới đòi hỏi. Như thế khó cho công ty lắm. Và thân làm HR thì cũng nên nói rõ khoản này cho ứng viên vì tâm lý người Việt nhiều khi ngại không muốn bàn. Do đó yêu mà không nói rõ với nhau, kết hôn rồi mới xảy ra mâu thuẫn.

Lương tháng 13,  thực chất đây là “hệ quả” của 1 thời hoạt động doanh nghiệp còn thiếu minh bạch về trách nhiệm với người lao động. Giai đoạn này rơi vào trước năm 2000, chủ yếu thuộc về 1 số đơn vị công ty có vốn Nhà nước, doanh nghiệp đầu tư có vốn nước ngoài, cơ chế tiền lương và chế độ lao động còn nhiều nhập nhèm.

Để bảo vệ quyền lợi cho người lao động, Luật Lao động Việt Nam đã quy định các doanh nghiệp sử dụng lao động phải có chế độ lương hợp lý, trên nguyên tắc công bằng “làm theo lao động, hưởng theo năng lực”. Theo đó, thay vì người lao động hưởng lương trọn vẹn theo tháng hay công nhật, thì sẽ có 1 khoản được trích khấu lại làm quỹ dự phòng, bảo hiểm cho họ.

Định nghĩa về quỹ này không rõ ràng, chỉ đơn giản là 1 khoản do doanh nghiệp tính toán, trong bối cảnh chưa có quỹ bảo hiểm thất nghiệp và các quỹ hỗ trợ người lao động khi có rủi ro bất thường, dùng giải quyết các vấn đề nảy sinh, giúp đỡ người lao động, như tai nạn, cứu trợ… Sau 12 tháng làm việc, người lao động không xảy ra sự cố gì, thì doanh nghiệp phải trả đủ khoản tiền “tiết kiệm” lao động ấy cho họ, gọi nôm na là lương tháng 13. Nghĩa là với quy định của Luật Lao động, người lao động mặc nhiên được nhận 12 tháng lương làm việc và 1 tháng lương “tiết kiệm” được trích lại. . Tháng lương 13 vì thế không có nghĩa là tiền thưởng, mà chính là tiền công lao động được giữ lại, doanh nghiệp phải có trách nhiệm trả đủ.

Những năm gần đây, khi chính sách tiền lương lao động rõ ràng hơn, các doanh nghiệp đều phải tuân thủ những trách nhiệm với người lao động theo luật chung về quyền lợi lao động, vấn đề thỏa thuận mức lương giữa họ và người lao động đã trở nên phổ biến.

Nhiều doanh nghiệp thống nhất trả đủ lương cho người lao động vào hàng tháng, không giữ lại khoản tiết kiệm nào, nên không thể có lương tháng 13. Vì thế, việc nhiều người căn cứ theo Luật Lao động để đòi hỏi doanh nghiệp phải có phần nhất định có lương tháng 13 vào tháng cuối năm cho người lao động, là 1 yêu cầu khiên cưỡng.

Thậm chí nhiều người cho rằng đây là tháng lương thưởng phải có, cũng là lập luận không chính xác. Bởi lẽ nếu chiếu theo những người lao động thời vụ và lao động tự do, rõ ràng họ không bao giờ được hưởng “lương tháng 13” !

Như vậy, cần hiểu lương tháng 13 không phải số tiền thưởng của doanh nghiệp đối với người lao động.

Nếu có, đó thật ra là khoản tiền công bị giữ lại hàng tháng, họ phải được nhận đủ. Nếu không, việc người lao động đòi hỏi doanh nghiệp phải phát lương tháng 13 là sai.

Căn cứ vào năng suất lao động, doanh nghiệp có thể thưởng cho những người lao động tích cực, có thành tích cao, chứ không thể thưởng hết cho mọi lao động. Mức thưởng này cũng không thể quy đồng là bằng “tháng lương 13”.

Theo
Nguyễn Hùng Cường | kinhcan24
Read more…

Khởi nghiệp doanh nghiệp phải chấp nhận yếu kém

tháng 5 12, 2017 |
Ừ THÌ TÔI KÉM!

Hội thảo bắt đầu lúc 9g sáng ngày 28/12, nhưng 8g30 đã thấy 100 doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) của Mã lai có mặt đông đủ. Họ là những doanh nghiệp đã trải qua vòng tuyển chọn để được tham gia vào chương trình Doanh nghiệp đổi mới & hội nhập (BIT – Business in Transformation) của chính phủ Malaysia. Chương trình có mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh cho DNVVN của nước này trước thềm hội nhập.

Cũng tương tự như Việt nam, Mã lai có khoảng 97% số lượng doanh nghiệp là DNVVN, tương đương 645.136 doanh nghiệp (Việt Nam 96%, tương đương 600 ngàn doanh nghiệp). Họ cũng đi lên từ gốc doanh nghiệp gia đình, cũng gặp nhiều hạn chế và khó khăn như Việt Nam mình vậy. Nói về cơ hội bước ra thế giới với tư duy không dừng lại ở 30 (Mã lai 30 triệu dân), mà là tư duy 600 (600 triệu - dân số cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC), tư duy 800 (800 triệu - dân số cộng đồng kinh tế TPP), hay tư duy toàn cầu, họ cho rằng tư duy đã xác định rồi nhưng kiến thức và kỹ năng quản trị doanh nghiệp thì còn kém lắm. Tôi hơi sững người một chút. Ngồi đây trước mắt tôi là những chủ doanh nghiệp có từ 30 đến 100 chi nhánh nhượng quyền, có doanh nghiệp đã ký được một hoặc hai hợp đồng nhượng quyền ra nước ngoài như Các tiểu vương quốc Ả rập, Indonesia, Úc…. Vậy mà họ rất tự nhiên và thật tình nói với nhau và nói với tôi rằng năng lực của mình còn kém lắm. Rồi họ chăm chú lắng nghe, ghi chép, đặt câu hỏi. Rồi họ tranh cãi, bàn luận theo nhóm về cách áp dụng những gì mình vừa học vào thực tế quản trị doanh nghiệp. Rồi họ đứng lên trình bày và phản biện về những hành động thực tiễn mà mình cần triển khai cho doanh nghiệp ngay sau 2 ngày hội thảo. Có một nguồn năng lượng thật dồi dào, thật thăng hoa trong từng cử chỉ, câu nói, tiếng cười. Tôi, người Việt Nam duy nhất trong căn phòng vỡ oà năng lượng tương lai ấy, lặng người bối rối. Tự hào vì người Việt Nam này đang chia sẻ kiến thức cho những doanh nghiệp quốc tế của tương lai. Lo lắng khi nghĩ đến 600 ngàn DNVVN Việt Nam đang loay hoay trước thềm hội nhập. Điều đáng lo ngại nhất theo khảo sát của Học viện nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS – Institute of South East Asian Studies) là 76% DNVVN Việt Nam không biết gì về cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), và 63% cho rằng việc thành lập AEC này chẳng có ảnh hưởng gì đến họ. Ở đây, ngày 28 & 29 tháng 12, có 50 DNVVN của Mã lai đang nhận ra sự kém cỏi về kiến thức và kỹ năng của bản thân mình, đang gấp rút nâng cấp năng lực nội tại để bước ra thế giới. Họ hỏi tôi đâu là thị trường cần vươn ra trước nhất. Tôi trả lời chính là thị trường AEC. Rồi họ sẽ vươn ra. Rồi họ sẽ bước vào thị trường Việt Nam theo tiến độ chúng tôi đã vẽ trên bản đồ phát triển. Không ảnh hưởng sao? Sân chơi không còn là Việt Nam. Luật chơi không còn là bảo hộ.

Nhớ lại sáng chủ nhật ngày 27/12 tôi hãy còn ở Việt Nam và tham gia toạ đàm cùng TS. Nguyễn Thanh Tú, quyền vụ trưởng vụ Pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư Pháp dành cho DNVVN tại thành phố Hồ Chí Minh. Ông cập nhật những thông tin vô cùng bổ ích về các hiệp định thương mại, về cơ hội và thử thách mà DNVVN Việt Nam cần lưu ý. Trong đó, ông có nêu ra ba vấn đề về năng lực cạnh tranh trước thềm hội nhập là năng lực cạnh tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, và nguồn nhân lực. Quay lại với Mã lai và nhìn vào hội thảo mà tôi đang làm, đó chính là một phần trong nỗ lực của quốc gia này nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tại hội thảo quốc tế về nhượng quyền quốc tế diễn ra ở Kuala Lumpur hồi tháng 5/2016, đại diện của Bộ tài chính cũng trình bày rất rõ rằng để tăng năng lực cạnh tranh kinh tế của quốc gia, họ sẽ đầu tư vào nguồn vốn nhân lực. Chỉ khi doanh nghiệp nâng cao hiểu biết, kiến thức và kỹ năng của mình thì năng lực nội tại của họ mới vững mạnh, khả năng sáng tạo, đổi mới, và phát triển của họ mới phát huy, và sự phát triển của họ  cũng như sự phát triển chung của kinh tế quốc gia mới thực sự bền vững. Đó cũng là lý do có cái hội thảo này do chính phủ tài trợ để nâng cao kiến thức và kỹ năng cho DNVVN.

Hội thảo 2 ngày đã kết thúc. Họ đề nghị tạo một nhóm riêng online để tiếp tục trao đổi, cập nhật về việc ứng dụng, về thành công, về khó khăn, về thất bại, vì cái học và sự cải tiến chẳng bao giờ có bờ bến nào mà dừng lại. Vừa rời khỏi phòng hội nghị về đến khách sạn, tôi đã nhận ngay nhiều email cám ơn vì những kiến thức hữu ích và thực tế, cùng những câu hỏi tiếp theo. Biết tôi có tham gia một chương trình cố vấn trực tiếp (mentoring) cho các doanh nghiệp hạt giống được chính phủ đầu tư để xuất khẩu ra quốc tế, ai cũng hỏi tới tấp làm sao để tham gia và điều kiện thế nào. Tất cả không chỉ dừng lại ở ý nghĩa một cái hội thảo do chính phủ tài trợ và học không tốn phí. Nó là tinh thần “Ừ thì tôi kém” và tôi đang học hỏi, luôn tìm cơ hội học hỏi để vươn lên.

Nguyễn Phi Vân
Read more…

Nếu mục tiêu khởi nghiệp của bạn chỉ là tiền thì đó là cách kiếm tiền nặng nhọc nhất

tháng 2 05, 2017 |

Nhưng nếu khát vọng của bạn là tạo ra những giá trị mới cho xã hội thì ngoài việc làm nhà khoa học ra, khởi nghiệp lại gần như là cách duy nhất để bạn làm được việc đó.

Ở Việt Nam, phong trào khởi nghiệp rất sối động, song lại bị cho là ảo tưởng khi mà có quá nhiều startup mọc lên như nấm sau mưa rồi lại đua nhau thất bại.

Tuy nhiên, chia sẻ dưới đây của ông Đỗ Hoài Nam, một người khá nổi tiếng trong giới khởi nghiệp tại Việt Nam có thể sẽ giúp bạn can đảm hơn trên con đường khởi nghiệp.

"Ở một đất nước mà có đến hơn 200 nghìn cử nhân, thạc sỹ thất nghiệp thì lối thoát nào cho ta? Cứ nghĩ mà xem.

Khởi nghiệp có rủi ro không? Về một phương diện nào đó thì khởi nghiệp rất rủi ro. Thế nhưng nếu nhìn kỹ lại thì lại chả có gì rủi ro cả nếu như mục tiêu cuộc đời bạn không phải chỉ là tiền.

Đã gọi là khởi nghiệp thì có thể coi như bạn bắt đầu sự nghiệp từ số không. Mà đã từ số không rồi thì khó có thể đi xuống được lắm. Có người nghĩ là, "thế nhỡ thành số âm thì sao?"

Xin thưa: Để thành được số âm khó hơn để thành số dương nhiều. Không tin cứ thử bảo cậu sinh viên tay trắng nào đi ra ngân hàng vay tiền xem. Đố.

Còn nếu như mục tiêu cuộc đời của bạn chỉ là tiền thì khởi nghiệp là cách nhọc nhất để có thể kiếm được tiền. Nhưng nếu khát vọng của bạn là tạo ra những giá trị mới cho xã hội thì ngoài việc làm nhà khoa học ra, khởi nghiệp lại gần như là cách duy nhất để bạn làm được việc đó.

Rủi ro ư? Cùng lắm là gì? Là mất thời gian. Nhưng đổi lại là những trải nghiệm mà có người cả đời không có được. Đổi lại là cái cảm giác mình sắp chạm tay được vào giải Oscar trong khi cái lũ khán giả chỉ được xem qua vô tuyến.

Thời gian quý thật, nhưng nó chỉ quý khi đi kèm với nó là trải nghiệm.

Xã hội chỉ có thể phát triển khi nó luôn tạo ra những giá trị mới. Nếu chúng ta chỉ nghĩ đến kiếm tiền mà không tạo ra giá trị mới thì tiền chỉ chuyển từ túi người này sang túi người khác. Tổng vẫn luôn bằng không.

Và trong một xã hội, các giá trị hiện tại đều đã có chủ, nếu không có giá trị mới thì cướp tiền từ túi thằng khác không phải là điều đơn giản. Startups kiếm được tiền dễ nhất là từ những giá trị mới do chính chúng ta tạo ra.

Nếu có một cách tiếp cận đúng một cách tiếp cận từ phía "tạo ra giá trị mới", thì liệu Startup có phải là một phong trào "gây ảnh hưởng xấu" không?

Đất nước ta từ ngàn năm nay vẫn ăn bám vào "đất mẹ", từ thời các cụ chúng ta đã không chịu tạo ra giá trị mới. Các cụ đã nhát, bác cháu ta phải làm sao nhát hơn cụ à?

Con số 200 nghìn cử nhân thạc sỹ thất nghiệp sẽ tăng lên hay hạ xuống hoàn toàn phụ thuộc vào bạn. Nếu nước ta có phúc, các cháu sẽ máu hơn các cụ.

Hãy cứ theo đuổi khát vọng của mình với toàn bộ năng lượng của tuổi trẻ".
Nguồn: CAFEBIZ.VN
Read more…

Startup đừng đâm đầu làm quảng cáo nữa, hãy làm PR!

tháng 2 05, 2017 |
Startup thường bị nhầm lẫn giữa truyền thông cho một doanh nghiệp lâu năm và PR cho những startup mới bắt đầu. Bài viết này sẽ phân định rõ ranh giới giữa 2 câu chuyện này.

Truyền thông quảng cáo sản phẩm không hề rẻ tiền chút nào. Facebook cũng đang tăng giá quảng cáo chóng mặt. Các nội dung thương hiệu đang dần trở nên nhàm chán trong mắt người dùng Facebook, Google. Khách hàng cần một nội dung phù hợp hơn, gắn liền với đời sống hàng ngày của họ.

Tại sao phải làm PR?

PR là viết tắt của từ Public Relationship - xây dựng quan hệ với công chúng. Xin hãy chú ý chữ "quan hệ". Để trở thành một mối quan hệ với công chúng, thương hiệu cần tương tác 2 chiều - tức là người đọc, khách hàng tiềm năng của bạn sẵn lòng "share", "inbox" nói chuyện cùng thương hiệu. Tất nhiên, để làm được điều này không hề dễ dàng chút nào.

Các thương hiệu đã có tuổi đời, họ có sẵn nguồn khách hàng quay lại (sử dụng lại) và khách hàng trung thành. Chuyện họ cần làm là dựa vào các công cụ quảng cáo để boom cho sản phẩm/dịch vụ/khuyến mãi mới đến các khách hàng của họ và những khách hàng tiềm năng.

Còn đối với startup, đây là câu chuyện từ con số 0. Không có khách hàng có sẵn, không có kinh nghiệm sử dụng sản phẩm, tại sao họ lại phải sử dụng dịch vụ của bạn? Thiếu lý do để tin tưởng (reason-to-believe), mọi thông tin quảng cáo rầm rộ (và tốn rất nhiều tiền) sẽ không thể thu được hiệu quả quá tốt.

PR giải quyết được câu chuyện này, PR sử dụng những kênh xuất bản nội dung có sẵn như báo mạng, kênh Facebook page giải trí... để phổ biến nội dung sản phẩm cực kỳ rõ ràng (nội dung chữ nhiều hơn quảng cáo thông thường), và gắn sản phẩm với giá trị cụ thể. Grab là một ví dụ điển hình, họ làm điều này cực kỳ thành công với 2 fanpage chính là Tuyết Bitch Collection và Thỏ Bảy Màu.

Làm PR chuyên nghiệp cần một nhân viên PR thuộc dạng "pro". Các startup có thể thuê người làm PR theo dạng bán thời gian hoặc theo hợp đồng. Chỉ cần một người làm PR giỏi, thông tin sản phẩm của bạn có thể xuất hiện khắp mọi nơi với chi phí cực kỳ rẻ.


Nhưng điều startup cần quan tâm thứ 2 khi bắt đầu làm PR là: chúng ta có thể cung cấp giá trị gì cho khách hàng?

Nhiều startup bị nhầm lẫn khi cho rằng: chỉ cần nội dung sản phẩm tốt, PR đúng kênh là được. Quan niệm này không đúng, bạn vẫn cần phải học tập các công ty có tuổi đời: phải có giá trị "call-to-action" - làm sao cho khách hàng đọc thông tin PR xong là muốn dùng liền.

Kinh nghiệm từ một trường hợp thực tế: một ứng dụng đặt khách sạn mới ra mắt. Startup chỉ mong có lượng cài đặt mới là hàng chục ngàn người cài ứng dụng, mà không quan tâm đến chuyện người dùng sẽ cảm nhận thế nào.

Tôi đã từng tư vấn: hãy nhắm vào nhu cầu cụ thể, chi phí cài ứng dụng sẽ giảm rất nhiều. Nhu cầu cụ thể ở đây là gì? Nếu là khách sạn, nhu cầu nổi bật ngay mỗi tuần là tối thứ 7 đi chơi cùng bạn gái. Tại sao cần thuê khách sạn tối thứ 7 thì tôi xin phép không cần trình bày. Nếu thông tin PR phủ cực mạnh vào mỗi chiều thứ 6 cho thông điệp này, "khách sạn đẹp rẻ luôn sẵn sàng trên ứng dụng ABC vào mỗi tối thứ 7" - chắc chắn sẽ hiệu quả hơn bỏ tiền quảng cáo kiếm lượt cài đặt rất nhiều.

PR giải quyết một câu chuyện cực kỳ hiệu quả mà quảng cáo khó làm: thông điệp dễ nhớ trong thời gian dài và dễ chia sẻ hơn các banner quảng cáo khô khan. PR là thông điệp được trau chuốt hơn các câu quảng cáo sặc mùi tiền. Và khách hàng Việt Nam thì chưa bao giờ yêu thương quảng cáo...

Trong bài viết tiếp theo, chúng tôi sẽ đề cập đến cách làm Online PR theo dạng "trao đổi ngang" và "tiếp thị liên kết" giá 0 đồng. Mời quý bạn đón đọc.
Nguồn: CAFEBIZ.VN
Read more…

Nên kinh doanh gì với số vốn ít

tháng 7 03, 2016 |
Nên kinh doanh gì với số vốn ít ? Là câu hỏi với nhiều người khi mới ra kinh doanh hoặc khởi nghiệp lại.
nên kinh doanh gì với số vốn ít
Trên thực tế, sau khi phân tích kỹ nhiều ngành hàng và làm việc với nhiều chủ doanh nghiệp vấn đề về vốn ít hay nhiều chưa phải là yếu tố tiên quyết cần thiết khi bước ra kinh doanh. Điều quan trọng là phải chọn cho mình phương án kinh doanh tốt. Nếu đã có phương án kinh doanh tốt dù có ít vốn hoặc thậm chí không có vốn ta vẫn có thể gọi vốn. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường cạnh tranh như hiện nay chúng ta cần xác định giá trị cốt lõi của bản thân. Xác định rõ  "mình là ai": bản thân có thể làm được gì ? Điều gì bạn có thể làm tốt và cảm thấy đam mê nhất ? Điều gì bạn có thể kinh doanh mà bạn có thể làm tốt hơn người khác hoặc người khác không làm được... Tôi đang nói tới việc định vị lại bản thân. Làm rõ được bạn là ai thì ta xem xét đến "đằng sau mình là ai", nguồn lực nào có thể hỗ trợ mình khi bắt đầu công việc kinh doanh đó và làm tốt nó hơn đối thủ cạnh tranh


Sau khi định vị được bản thân chúng ta bắt đầu xem xét đến sản phẩm kinh doanh
Có nhiều người hỏi tôi câu hỏi tương tự như: có ít vốn giờ nên kinh doanh gì khi có ít vốn trong khi chưa xác định được phương án kinh doanh tốt để kêu gọi vốn đầu tư hoặc đại loại như bản thân chưa có thế mạnh gì nỗi trội, chưa đủ để tạo ra thứ mà mình có thể làm tốt hơn người khác. Khi đó ta quay lại với bài toán kinh doanh với số vốn ít thuần túy mà không phải huy động vốn, nguồn lực.
Để giải quyết được bài toán này chúng ta nên quay về nền tảng sản xuất để xác định nên kinh doanh gì với số vốn ít. Tôi cá là sau khi nghiệm lại bạn sẽ ồ lên đơn giản vậy thôi mà không nghĩ ra:

Lịch sử loài người đã trải qua nhiều giai đoạn sản xuất, đơn giản và loại bỏ những vấn đề ít liên quan:
+ Bắt đầu từ nông, lâm & ngư nghiệp. Giai đoạn này chúng ta tập trung vào nhu cầu cơ bản như ăn, uống... Hầu hết là lấy công làm lời, chu kỳ sản suất, thu hồi vốn tương đối dài tùy theo mùa vụ
+ Tiếp theo là công nghiệp. Công nghiệp ra đời nhằm cải thiện sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và sản xuất ra sản phẩm công nghiệp số lượng lớn phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của con người... Sản xuất công nghiệp đòi hỏi nhiều vốn, chu kỳ sản suất, thu hồi vốn vẫn tương đối dài
+ Kế nữa là thương mại & dịch vụ. Khi sản suất trở nên dư thừa thương mại ra đời nhằm phân phối lại hàng hóa và tạo ra giá trị thặng dư từ đó hỗ trợ và kéo theo sự phát triển dịch vụ. Thương mại có chu kỳ hoàn vốn khá nhanh và thậm chí là không cần bỏ vốn nếu chúng ta kinh doanh khéo. Còn dịch vụ thì sao ? Đây chính là điều mà tôi muốn nói tới để trả lời câu hỏi trong bài viết ngày hôm nay: nên kinh doanh gì với số vốn ít. Nếu khéo léo để kinh doanh dịch vụ, có thể bạn không cần vốn đâu.
Bài viết ngày hôm nay chỉ dừng lại tại đây. Chúng ta có thể thảo luận thêm dưới phần comment hoặc theo dõi ở những bài viết sau
Lưu ý: Bài viết mang tính chia sẽ cá nhân từ thực chiến, không mang tính học thuật hay nghiên cứu từ tài liệu kinh doanh nào
Read more…

Top Hot 30 day

ADS